‘Phong thần’ cho con: Khi phụ huynh Việt ưa dùng… độc dược

Cha mẹ nào càng thích khen con mình là có năng khiếu và tự hào là con mình có tài năng bẩm sinh là vô tình hại con cực kỳ nghiêm trọng, và tạo áp lực khủng khiếp lên đứa trẻ. Nuôi dạy con thế nào cho đúng luôn là vấn đề quan tâm muôn thủa của cha mẹ. Cách đây hơn một năm, người ta thán phục chiến lược nuôi dạy con của một phụ huynh đã đưa một sinh viên nữ người Việt vào Harvard, công chúng ngưỡng mộ một cậu bé được coi như thần đồng vì năng lực tiếng Anh xuất chúng. Ấy vậy mà, mấy ngày nay, câu chuyện một cô bé người Canada thuê người giết cha mẹ mình lại làm mọi người sững sờ nghi ngờ liệu việc đào tạo một đứa trẻ toàn diện như vậy có thực sự đúng không. Áp lực học hành liệu có nặng nề quá với con mình không? Mình có làm đúng cho con không? Bài viết này chia sẻ quan điểm của tôi về vấn đề này.

Khổ luyện và sự can thiệp của cha mẹ không hề đánh mất tính sáng tạo của con cái

Phản biện đầu tiên với nhận định cho con học hành nhiều sẽ dẫn đến thất bại là sự nhầm lẫn về thống kê. Người ta đang khái quát hóa một kết luận dựa trên một vài hiện tượng đơn lẻ. Hàng năm trên thế giới này có bao nhiêu trường hợp trẻ em bắn giết bố mẹ hay tự tử do áp lực thành công quá nặng nề? Con số ấy chắc chắn không đến mức trở thành con số có ý nghĩa về thống kê. Báo chí đã biến một trường hợp đơn lẻ thành một khái quát rất phản khoa học là học nhiều, ngoại khóa nhiều sẽ dẫn đến việc con bị “tẩu hỏa nhập ma”.

Kết luận ngớ ngẩn người ta rút ra qua mấy vụ tự tử là lối dạy con của người châu Á có lợi ích về ngắn hạn (short term) còn lối dạy con của người châu Âu/Mỹ có lợi về mặt long-term (dài hạn). Con dạy theo kiểu Âu Mỹ sẽ sáng tạo hơn con dạy theo kiểu Á Đông. Những người đưa ra kết luận này chắc chưa nhìn thấy con Tây của nhiều gia đình thượng lưu ở Mỹ được giáo dục thế nào. Ở Mỹ có cái từ rất nổi tiếng là “soccer mom”, có nghĩa là “mẹ bóng đá” dành 100% thời gian cho con cái. Bọn trẻ con những gia đình khá giả ở Mỹ cũng cực kỳ bận rộn. Chúng học đủ thứ, từ văn hóa, thể thao, nhạc họa, bóng đá, lịch của chúng cũng dày đặc chả kém lịch của con các vị Á Đông cả.

Hàng năm Harvard từ chối rất nhiều học sinh Mỹ (trắng) với hồ sơ điểm A tuyệt đối, SAT cao, là chủ tịch, lãnh đạo gì đó trong trường, đội trưởng đội thể thao, tài năng đầy mình, nói vài ba thứ tiếng… Những trường hợp này nếu ở Việt Nam rất dễ được tung hô vì học sinh Việt ít bạn “toàn tài” như vậy.  Vậy tại sao dân Á Đông thường được nhắc đến mà Âu Mỹ ít ai nhắc đến? vì dân Á Đông thường là theo thế hệ thứ 1-2 và phần lớn nghèo/trung lưu vất vả nên câu chuyện thành công bao giờ cũng lấy được cảm xúc của nhiều người. Còn đối với dân Âu Mỹ, chuyện “hard working- chăm chỉ” là chuyện bình thường.

Cũng không phải cứ người Âu Mỹ (trắng) là hoàn toàn miễn nhiễm với áp lực thành công lớn. Mới đây thôi Đại học Pennsylvania (nằm trong nhóm Ivy League) đã báo động về tình trạng một vài học sinh năm 1 của trường tự tử và đây được nhận định không phải là một hiện tượng hiếm lạ trong nhóm các trường hàng đầu tại Mỹ.

Nhận xét thứ hai là trẻ con châu Á (được đào tạo nhiều, chơi ít) không sáng tạo bằng trẻ con được dạy dỗ theo hình thức Âu Mỹ (học ít, chơi nhiều). Đây là nhận định rất phản khoa học.

Không có nghiên cứu, thống kê nào chỉ ra rằng đứa trẻ học nhiều thứ lại không sáng tạo bằng đứa trẻ rong chơi và ngược lại. Càng được tiếp cận với nhiều ngành học, khoa học cơ bản, nhạc họa, thể thao, v.v đứa trẻ càng được hưởng lợi trong việc tiếp cận đa ngành, điều rất có lợi cho năng lực sáng tạo. Việc học viết thư pháp từ những năm đại học đã giúp Steve Job rất nhiều trong việc tư duy về vẻ đẹp của các thiết kế Apple. Leonard De Vinci được coi là một trong những người sáng tạo nhất của nhân loại, cũng là một người nghiên cứu đa ngành, từ hội họa, điêu khắc, đến kỹ sư, vật lý, v.v. Sáng tạo không phải là thứ trên trời rơi xuống như nhiều người ngộ nhận, cũng không phải là chơi nhiều thì sẽ sáng tạo hơn học nhiều.

Bên cạnh đó, để trở thành con người sáng tạo, cần cả một hệ sinh thái (eco-system) hỗ trợ. Có xuất chúng đến mấy một đứa trẻ cũng không thể trở thành Steve Job ở Việt Nam nơi hệ thống pháp lý, tài chính và văn hóa nâng đỡ doanh nghiệp còn rất tệ hại. Một Yo Yo Ma người gốc châu Á làm rung động hàng triệu con tim với tiếng cello tuyệt đỉnh phải ở Mỹ, chứ không phải là ở một nơi mà cái tôi bị giết chết.

Hơn nữa, sự xuất chúng thường luôn cũng đi kèm với khổ luyện và sự cam kết đồng hành sát sao của cha mẹ, đặc biệt là trong lĩnh vực âm nhạc hay thể thao. Nếu nghiên cứu cuộc đời của những người thành công, như Yo Yo Ma (nghệ sĩ cello nổi tiếng), Tiger Wood (cựu nguyên golf thủ số một thế giới), Maria Sharapova (nữ hoàng tennis), người ta luôn thấy có sự khổ luyện một thời gian dài từ rất nhỏ với sự tham gia rất sớm và chặt chẽ của cha mẹ. Cha của Tiger Wood, cha của Maria Sharapova, trong nhiều năm hy sinh tất cả thời gian và năng lượng của mình để Wood và Sharapova có thể tập luyện thể thao đỉnh cao. Không như nhiều nhận định cảm tính, sự thành công thường có bóng dáng rất lớn của cha mẹ.

Chuyện căng thẳng do áp lực thành công không phải là do học nhiều thứ, mà còn có một nguyên nhân rất lớn khác.

Thuyết “thiếu hụt tương đối”

Một trong những nguyên nhân sâu xa của việc sụp đổ vì áp lực thành công là hiệu ứng “thiếu hụt có tính tương đối” “relative deprivation”. Theo lý thuyết xã hội học, hiệu ứng này cho rằng người ta so sánh bản thân mình với những người trong cùng bối cảnh của mình. Ví dụ, một học sinh sẽ đánh giá mình giỏi hay không khi đối chiếu mình với những bạn học cùng lớp.Những học sinh “toàn diện/giỏi” sẽ so sánh mình với những học sinh “toàn diện/giỏi” khác chứ không so chúng với những học sinh kém. Và do vậy, lúc nào cũng sẽ có những học sinh luôn cảm thấy mình kém cỏi ngay cả khi chúng đã rất xuất sắc. Điều này có ảnh hưởng lớn đến động lực học và sự tự tin của chúng.

Trong giáo dục, theo nhà tâm lý học Herbert Marsh và nhà báo Malcom Gladwell, hiện tượng này dẫn đến tình huống rất phổ biến là “Hiệu ứng cá lớn trong ao nhỏ”. Một con cá lớn sẽ cảm thấy lớn hơn nếu nó ở trong một cái ao nhỏ, còn nó sẽ rất bé nếu nó sống giữa đại dương, mặc dầu cá không thay đổi về kích cỡ. Sự tự đánh giá của học sinh về chính mình có quan hệ tỷ lệ nghịch với sự nổi tiếng của trường. Những học sinh giỏi có thể (cảm thấy) rất bình thường tại một môi trường toàn những học sinh xuất sắc. Do vậy, trừ những em đặc biệt xuất sắc trong top đầu, những học sinh học ở Lê Hồng Phong, HN- Amsterdam, cũng như những sinh viên xuất sắc ở Harvard, Oxford, đặc biệt là những em trong top cuối, sẽ luôn cảm thấy áp lực vì chúng sẽ so sánh chúng với những người trong trường mình.

Đáng ra trở thành học sinh đứng đầu lớp tại một môi trường áp lực vừa phải, trong một môi trường toàn những người quá xuất sắc, lòng tự tôn và tự tin của những sinh viên top cuối đã bị tổn thương nghiêm trọng. Trong nhiều trường hợp, nếu ở một môi trường vừa phải, chúng đã có thể theo đuổi ước mơ lớn của mình là trở thành một bác sĩ, một khoa học gia. Tuy nhiên, việc mất tự tin trầm trọng đã biến chúng chọn con đường dễ dàng hơn, và cuối cùng trở thành một người rất bình thường không dám theo đuổi ước mơ lớn.

Do vậy, việc trẻ em hay người lớn trong nhóm top đầu thường bị căng thẳng là chuyện bình thường luôn xảy ra. Cha mẹ đừng tự đổ tội cho mình là đã tạo áp lực cho con vì đó là cái giá phải trả khi con chúng ta nằm trong nhóm tinh hoa.

Đừng “phong thần cho con”

Đối với cha mẹ, vấn đề chính là cách dạy con em nhìn nhận sự căng thẳng và thất bại thế nào. Cha mẹ cần giáo dục con tự chiến thắng bản thân mình chứ không phải so với con nhà người khác. Không bao giờ được khen con về tài năng mà phải khen con là chăm chỉ, cố gắng. Cái này rất quan trọng. Cha mẹ nào càng thích khen con mình là có năng khiếu và tự hào là con mình có tài năng bẩm sinh là vô tình hại con cực kỳ nghiêm trọng, và tạo áp lực khủng khiếp lên đứa trẻ. Chúng ta rất thích khen con là “có năng khiếu” mà không biết đấy là lời khen “dại dột ” nhất của mình.

Ấy thế mà phần lớn nhân loại lại thích được khen là “thiên tài”, “có năng khiếu”, “có tài”. Tại sao người ta lại thích khen và được khen là “có năng khiếu”?  Đơn giản thôi, “có năng khiếu” có nghĩa là mình “ưu việt hơn” người khác từ lúc bẩm sinh. Người “có năng khiếu” trong sâu thẳm của vô thức được (xã hội)đặt cao hơn “người bình thường” một bậc, như thần thánh so với kẻ phàm trần. Ai chả thích được coi là “thần thánh”?

“Thần thánh” hay “có năng khiếu” có nghĩa là không cần phải rèn luyện, không cần phải chăm chỉ mà vẫn thành tài. Đứa trẻ được khen là “có năng khiếu” sẽ bị đóng đinh vào cái gọi là “khung nhận thức cố định” (fixed mindset). Với khung nhận thức này thì trí tuệ hay tài năng bị giới hạn bởi năng lực bẩm sinh, có cố gắng mấy cũng không vượt qua được.

Do vậy, đứa trẻ được khen là có năng khiếu sẽ có xu hướng trốn chạy những thách thức khó khăn. Chúng cũng thường lảng tránh chỉ trích vì trong vô thức chúng sẽ không chịu được việc mình trở thành “người bình thường”. Đứa trẻ “có năng khiếu” cũng sẽ dần mất đi ý chí phấn đấu, làm việc cật lực, chăm chỉ. Mỗi lần gặp khó khăn, nó sẽ lại đổ tại hàng trăm lý do khác ngoại cảnh chứ không phải là vì sự phấn đấu của nó. Sẽ có lúc nó cảm thấy và đổ lỗi cho cả thế giới đang chống lại nó chứ không phải là do nó. Và khi không thể làm được gì nữa, chúng sẽ có những hành động cực đoan như tự tử, sát nhân, trầm cảm v.v.

Đây là điều đặc biệt quan trọng đối với các em học sinh xuất sắc vì các em này thường có một số việc các em làm sẽ dễ dàng hơn người bình thường, cũng có nghĩa là khi các em không thấy việc đó dễ dàng nữa hoặc không theo ý mình nữa thì các em nản chí rất nhanh.

“Khung nhận thức phát triển” (growth mindset)

Trong khi đó, những người, đặc biệt là những đứa trẻ có khung nhận thức phát triển (growth mindset) lại nhìn nhận vấn đề tài năng và thất bại một cách hoàn toàn khác. Người có khung nhận thức phát triển hiểu rằng, về mặt thần kinh học, tài năng thực sự là do khổ luyện mà thành và phải rèn dũa liên tục mới duy trì được. Tài năng không phụ thuộc vào bẩm sinh. Lợi thế xuất phát điểm ban đầu chỉ là một khởi điểm thuận lợi nhưng về dài hạn thì thành công như một cuộc đua marathon mà người bền bỉ nhất mới là người chiến thắng.

Những đứa trẻ có khung nhận thức phát triển (growth mindset) sẽ nhìn nhận thất bại theo hướng khác. Chúng sẽ không để bị đánh giá bởi thất bại vì chúng hiểu rằng thất bại là một “tất yếu” không thể tránh khỏi để đạt đến thành công. Chúng hiểu rằng não chỉ có thể ghi nhớ những những bài học lớn qua trải nghiệm, thất bại. Thất bại do vậy, thực sự là một tiền đề cần phải có để đạt đến thành công.  Khi gặp thất bại, những đứa trẻ có khung nhận thức phát triển chắc chắn sẽ buồn nhưng chúng sẽ không nản lòng mà rất bền bỉ.

Đồng thời, phản ứng của những đứa trẻ có khung nhận thức phát triển trước những lời chỉ trích cũng sẽ khác. Chúng không coi những lời chỉ trích là xấu mà là những lời góp ý để chúng có thể thay đổi tốt hơn. Thay vì thu mình lại trước những lời chỉ trích như những đứa trẻ có khung nhận thức cố định, chúng đón nhận đó với tâm thức xây dựng và tự tìm cách hoàn thiện mình.

Do vậy, bên cạnh đầu tư cho con học hành, tập luyện thể thao, cha mẹ cần hiểu và nhận thức đúng về cách nhìn nhận thành công và tài năng. Đừng biến con thành “thần đồng” mà hãy giúp con thành “người chiến thắng trong cuộc đua marathon”.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s